Nguồn:
read.st
Chà, lão nhân này bước đi thật tiêu sái, Lâm Vãn Vinh nhìn dáng ông ta thầm nghĩ, rồi lại chăm chú nhìn “Yên vũ đồ”, trên đó bốn chữ nhỏ “Sơn Âm Từ Vị” nét mực còn chưa khô.
Sơn Âm thì Lâm Vãn Vinh cũng biết, chính là Thiệu Hưng sau này, nhưng Từ Vị này là ai? Không chỉ có bút pháp tuyệt diệu mà còn là nhất lưu cao thủ trên chiếu đối. Lâm Vãn Vinh trong lòng có điểm tiếc nuối, vốn hắn có thể lấy được hai bộ Tây Hồ yên vũ đồ, chỉ là lão nhân này thực sự có chút bản sự, vừa rồi đối chuẩn được câu đối đó, tiếc là có một bộ Yên Vũ đồ thôi à.
Lâm Vãn Vinh nhìn bốn chữ “Sơn Âm Từ Vị” không chút cảm giác nhưng đám sỹ tử bên cạnh lại kinh hãi thốt lên:
Tiêu đại tiểu thư vội vàng đi tới, nhìn thấy mấy chữ nhỏ đó hoan hỉ nói:
Trong lòng Lâm Vãn Vinh có chút hồ đồ liền hỏi:
Đại tiểu thư liếc mắt nhìn hắn:
“Từ Văn Trường*?” Lâm Vãn Vinh nhất thời hưng phấn nhảy dựng lên. Trời, danh tự này khá nổi tiếng, khi còn nhỏ xem truyện tranh chẳng phải có “Từ Văn Trường thông minh” sao, lại còn có cái gì “Văn Trường đấu Nghiêm Tung”, đúng là đại tài tử này rồi.
Kích động một hồi, Lâm Vãn Vinh tỉnh táo lại, đây là một thế giới hoàn toàn khác, từ Hán Sở trở về sau lịch sử đã thay đổi triệt để, không còn cái gì Đường, Tống, Nguyên Minh, Thanh cũng không có Nghiêm Tung gian tướng. Từ Văn Trường của đời trước tuy tài hoa hơn người nhưng cả đời cũng u sầu bất đắc chí, căn bản không từng làm cái gì đại quan mà nay xuất hiện trước mắt mình một Từ Văn Trường, lại là Văn Hoa điện đại học sỹ của Đại Hoa triều, một chức quan cực phẩm.
Cho nên đây hoàn toàn là hai người khác nhau, điều giống nhau duy nhất có lẽ là họ cùng tên là Từ Vị, đều có chân tài thực học không ai sánh bằng. Dòng trôi vô tận của lịch sử dù chảy theo những hướng khác nhau nhưng ngẫu nhiên cũng nổi lên hai đoá hoa lộng lẫy giống nhau, Từ Vị này là một trong đó.
Đại tiểu thư nghe thấy giọng điệu của Lâm Vãn Vinh liền do dự hỏi.
Lâm Vãn Vinh cười nói, Văn Trường này cũng chẳng phải Văn Trường kia nhưng trong lòng hắn tuyệt đối cũng là một danh nhân mà lại trùng ba chữ Từ Văn Trường ấy. Do đó Lâm Vãn Vinh cực kỳ có hảo cảm với ông ta.
Đại tiểu thư ngẫm lại thấy cũng đúng, vừa rồi hai người vừa mới đàm thi luận đạo hồi lâu nhưng bộ dạng không có vẻ gì là quen biết, nàng bèn nói tiếp:
Bức Tây Hồ yên vũ đồ này là hoạ quyển duy nhất mà Từ Vị đề chữ ký sao? Chà, không biết đáng giá bao nhiêu nhỉ? Trong lòng Lâm Vãn Vinh cười lớn, bỗng lại nghĩ Từ Vị ấy chấp chưởng Bộ Hộ, chẳng phải là chuyên quản tiền lương sao? Cũng khó mà trách ông ta có kiến thức như vậy với việc buôn bán.
Hắn suy nghĩ một hồi đột nhiên nói:
Đại tiểu thư cũng là người mẫn tiệp, nghe vậy nói:
Lâm Vãn Vinh gật đầu đáp:
Đai tiểu tư vui mừng nói:
Lâm Vãn Vinh nói:
Đại tiểu thư quả quyết:
Lần này chắc là không sai, ông ta đến đây nhất định là vì chuyện của hai thương hội. Giao hảo của ngươi và ông ta có thể thực sự là một chuyện tốt.
Giao hảo?
Lâm Vãn Vinh cười nói:
Đại tiểu thư của ta ơi, ta cùng ông ta chỉ nói chuyện dăm câu, đối câu đối mà thôi, sao nói giao hảo được. Ông ấy nghe ta muốn bán bức hoạ, không tức giận phùng mang trợn mắt là ta đã phải niệm A di đà phật cảm tạ rồi.
Không đúng rồi.
Đại tiểu thư mỉm cười:
Ngươi không biết tính cách của Từ đại nhân rồi. Bình thường ông ấy đối với người khác cực kỳ nghiêm khắc, càng không dễ dáng khen một ai đó. Hôm nay đối với ngươi như thế là ngươi đã lọt vào mắt xanh của ông ta rồi đó. Vào hội năm nay, ông ấy chắc sẽ không làm khó chúng ta. Lần này, ngươi định bán hay không bán bức hoạ đó vậy?
Bán, đương nhiên bán.
Lâm Vãn Vinh nói:
Đại tiểu thư gật đầu, lời của Lâm Tam thực sự có vài phần đạo lý.
Không tưởng được thật không thể tưởng được, du ngoạn Tây Hồ lại gặp một vị đại thần Thương thư Bộ Hộ Từ Vị, rồi còn đối lại câu đối của ông ta mà nhận được tranh. Bức hoạ này cũng rất có giá nữa chứ. Lâm Vãn Vinh cười với Đại tiểu thư:
Đại tiểu thư liếc nhìn hắn mỉm cười:
May mà hôm nay trong miếu ta đốt giấy dâng hương, nên ngươi mới gặp may thế đó.
Ngươi đem vàng hương dâng Bồ Tát à?
Lâm Vãn Vinh cả kinh nói:
Đại tiểu thư cất đôi chân nhỏ nhắn đi lên trước, đột nhiên quay đầu lại nói:
Nói rồi nàng khẽ che cái miệng nhỏ nhắn đang cười.
Tô đê tuy dài, hai người cười cười nói nói, rúc ra rúc rích nên cũng đi rất nhanh, khi đến cuối Đại tiểu thư nghĩ đến một chuyện liền quay sang nói:
Lâm Vãn Vinh ngạc nhiên hỏi:
Đại tiểu thư hừ một tiếng rồi nói:
Lâm Vãn Vinh ồ một tiếng dài khiến Đại tiểu thự đỏ mặt, nàng vội nói:
Lâm Vãn Vinh cười nói:
Đại tiểu thư suy nghĩ một chốc rồi thở dài:
Văn Trường tiên sinh, thiên hạ đệ nhất tài học, thực là danh bất hư truyền.
Này, Đại tiểu thư, ngươi có thể khen ta một chút được không?”
Lâm Vãn Vinh bất mãn nói:
“Ối?” Đại tiểu thư ngạc nhiên nói:
Nàng nói xong tiện tay kéo ống quần, cười khanh khách rồi đi về phía trước.
Ôi trời! nàng ta vừa khiêu khích ta kìa. Lâm Vãn Vinh nhìn bóng dáng thanh xuân tràn trề nhựa sống của Đại tiểu thư bỗng có một loại cảm giác. Đại tiểu thư tựa như đang dần thay đổi. Nếu nói trước kia như là phụ nữ ba mươi u uất thì giờ ngày càng giống như thiếu nữ mười mấy tuổi vậy.
Thời tiết giờ đã là thu đông, Tây Hồ thập cảnh cũng chỉ có thể thưởng ngoạn được mấy chỗ, hồ thu phẳng lặng. Đoạn Kiều, tàn tuyết bây giờ còn chưa có thấy, đi về phía nam không tới canh giờ, tiện đường chỉ có Linh Ẩn Tự.
Linh Ẩn tự đặt tại đây, nghe nói là do một tăng nhân nước ngoài đến Hàng Châu, gặp núi non kì tú nơi đây, nhận định nơi đây “Tiên linh sở ẩn( nơi tiên ở ẩn)” bèn dựng chùa ở chỗ này, gọi là Linh Ẩn.
Linh Ẩn tự có chín lâu, mười tám các, bảy mươi hai điện phù, tăng chúng đạt hơn ba ngàn, đứng đầu các chùa ở Giang Nam, kiến trúc hùng vũ của Linh ẩn tử được liệt vào ngũ sơn chi thủ viện (được coi là chùa đứng đầu tại ngũ sơn), dương danh thiên hạ.
Lúc Đại tiểu thư mang mấy người tới Linh Ẩn tự, vào chính lúc hương khói tế lễ nghi ngút, khách tới dâng hương đi di lại lại tấp nập, mắt thường không đếm xuể.
Lâm Vãn Vinh nhìn thoáng qua tòa cổ tháp nổi tiếng thiên hạ này, Linh Ẩn tự quả thật đúng với ý tứ của “Ẩn”, cả một ngôi tự hùng vĩ ẩn sâu trong một mảng xanh của rừng rậm và dòng suối trong lành bên Tây Hồ.
Gió thổi lồng lộng ngược lên trên. Tại Thanh Lâm động, những giọt nước từ trên các vách đá nhỏ xuống hình thành nên một thạch nhũ động. Qua bao thời đại đã khắc lên trên đá nơi đây những bức tượng nặng mấy trăm tấn. Đồ sộ nhất, phải kể tới tượng di lặc phật cởi trần đang tươi cười.
Đại tiểu thư tuy đã nhiều lần đến Hàng Châu nhưng đến Linh Ẩn Tự cũng là lần đầu, thấy quy mô hùng vĩ như vậy của chùa, hương khói nghi ngút không khỏi ngó quanh thán phục:
Lâm Vãn Vinh đối với thắp hương bái phật không có nhiệt tâm lắm nhưng thấy đại tiểu thư hưng phấn như thế liền nói:
Đại tiểu thư nghe ra ý tứ của hắn liền hỏi:
Lâm Vãn Vinh cười nói:
Đại tiểu thư gật đầu không nói thêm gì nữa, rồi dẫn ba người vào chùa
Lâm Vãn Vinh đi dạo một vòng bên ngoài, nhàm chán vô vị, lén nhìn nữ thí chủ dâng hương cũng không có gì hay ho. Đang định tiến vào chùa, lại thấy một người đứng trong một khoảng rừng trúc thanh u ở xa xa, người nọ chậm rãi ngâm:
Quế tử nguyệt trung lạc
Thiên hương vân ngoại phiêu.
Môn la đăng tháp viẽn
Khô mộc thủ tuyền diêu.
Sương bạc hoa canh phát
Băng khinh diệp vị điêu.
Túc linh thượng hà dị
Sưu đối địch phiền hiêu.
Đãi nhận thiên thai lộ
Khán dư độ thạch kiều.**
Dịch thơ:
Trong trăng lơ lửng quế,
Ngoài cõi phất phơ hương.
Trên tháp dây mây mọc,
Bên khe máng nước tràn.
Sương bay hoa vẫn nở,
Băng nhẹ lá chưa tàn.
Trăm tuổi có chi lạ,
Tìm thơ để ý nhàn.
Cảnh tiên đang mở lối,
Cầu đá đợi người sang.
(Cao Thanh Tự)
Tuyệt, người này đúng là một tao nhân. Người ở thời đại này, thấy thắng cảnh liền ngâm vài câu thơ, xem như một thú vui tao nhã.
Rừng trúc yên tĩnh, bốn phía có hơn mười đại hán đứng coi, thần sắc cảnh giác quan sát xung quanh. Người ngâm thơ lại vô cùng tự nhiên, thân khoác áo bào vàng, đang chậm rãi tản bước, trông như rất nhàn nhã du ngoạn.
Xuất môn còn mang theo nhiều bảo tiêu như vậy, dĩ nhiên không phải phú cũng là quý, Lâm Vãn Vinh nghĩ thầm, đang muốn quay trở về, thì nghe người nọ kêu lên:
*Chú: Từ Văn Trường(1521-1593) là hoạ sỹ và nhà thư pháp nỏi tiếng ở thời Minh. Ông có một lô tên hiệu như Thanh Đằng lão nhân, Thanh Đằng đạo sỹ, Thiên Trì sinh, Thiên Trì sơn nhân... Có giả thuyết cho rằng ông chính là người viết tác phẩm Kim Vân Kiều khiến đại thi hào Nguyễn Du của chúng ta có cảm hứng mà viết nên Truyện Kiều. Theo giả thuyết này thì nhân vật Kim Trọng chính là hoá thân của Từ Văn Trường. Dù điều này có đúng hay không thì ông cũng là người sống cùng thời với Kiều và là một bậc tài tử xuất chúng.
** Đây là bài Linh Tự Ẩn của Tống Chi Vấn - 宋之問
Thái Bình quảng ký, Phật gia truyền kỳ, quyển 5, Dị tăng 5 chép từ Bản sự thi chép lại:
Khảo công Viên ngoại lang Tống Chi Vấn thời Đường có tội bị biếm làm quan nơi xa. Sau được tha về, tới Giang Nam, ghé chơi chùa Linh Ẩn. Gặp đêm trăng rất sáng, đi dọc hành lang ngâm nga, lại làm thơ rằng "Thứu Lĩnh hữu thiều nghiêu, Long cung tỏa tịch liêu", tới hai câu kế dụng công tìm tứ lạ mà rốt lại vẫn không vừa ý. Có nhà sư già thắp đèn trường minh đăng, ngồi trên thiền sàng hỏi "Chàng trẻ đêm khuya không ngủ mà ngâm vịnh khó khăn, sao thế?".
Chi Vấn đáp "Đệ tử theo nghiệp thơ, ngẫu nhiên muốn đề thơ ở chùa, mà hứng trí chưa xứng ý".
Sư nói "Thử đọc hai câu kế xem", Chi Vấn liền đọc. Sư ngâm nga hai ba lần, rồi nói "Sao không nói Lâu quan thương hải nguyệt, Môn đối Chiết Giang triều?". Chi Vấn kinh ngạc, lạ lùng vì lời thơ đẹp đẽ, liền nối theo làm hết bài như sau "Quế tử nguyệt trung lạc, Thiên hương vân ngoại phiêu. Môn la đăng tháp viễn, Khô mộc thủ tuyền diêu. Sương bạc hoa canh phát, Băng khinh diệp vị điêu. Đãi nhập Thiên Thai lộ, Khan dư độ thạch kiều", đưa hai câu thơ nhà sư tặng lên làm tuyệt cú của toàn bài.
Sáng ra tới bái phỏng, thì không thấy đâu nữa. Sư trong chùa có kẻ biết chuyện, nói "Đó là Lạc Tân Vương". Chi Vấn hỏi riết tới, đáp "Lúc Từ Kính Nghiệp thất bại, cùng Lạc Tân Vương chạy trốn, tìm không bắt được, tướng soái triều đình sợ để kẻ đầu sỏ lọt lưới sẽ mang tội lớn. Lúc ấy có mấy vạn người bị giết, nhân đó tìm hai cái xác có diện mạo hơi giống chặt đầu mang về dâng. Về sau tuy biết họ chưa chết nhưng cũng không dám truy bắt nữa. Cho nên Kính Nghiệp được làm sư ở Hành Sơn, hơn 90 tuổi mới chết. Lạc Tân Vương thì xuống tóc, đi du ngoạn khắp các danh sơn, tới chùa Linh Ẩn được một năm thì chết. Lúc ấy tuy thất bại, nhưng vì lấy tiếng khôi phục nhà Đường mà dấy quân nên được nhiều người che chở mà thoát chết".
Về câu chuyện này, Đường thi kỷ sự, quyển 7 cũng chép tương tự, nhưng bài thơ có vài chữ khác là Thứu Lĩnh uất thiều nghiêu, Lâu quan thương hải nhật. Bài thơ trên có điểm lạ là câu Tiên cảnh... thất niêm, so với nhiều tài liệu khác thì còn thiếu hai câu Túc linh thượng hà dị, Sưu đối địch phiền hiêu trước hai câu kết, thêm vào thì quả nhiên không còn thất niêm nữa. Có điều hai bản Thái Bình quảng ký, Bắc Kinh Quảng bá học viện xuất bản xã, 1999 và Đường thi kỷ sự, Đỉnh Văn thư cục, Đài Bắc, 1971 đều thiếu hai câu ấy, rất khó nói là đều bị in thiếu. Nhưng Đường thi kỷ sự có tham khảo Bản sự thi, Thái Bình quảng ký cũng chú rõ câu chuyện trên là theo Bản sự thi, có thể Bản sự thi đã chép thiếu, cũng có thể bài thơ vốn như thế nhưng người sau sao chép thấy thất niêm đã bổ sung thêm hai câu nói trên. Nên ở đây xin bổ sung thêm hai câu ấy để tồn nghi.
Tuy nhiên vấn đề văn bản của bài thơ nói trên chỉ là một chuyện, vì bản ý của những người sao chép câu chuyện này là nhằm giới thiệu hai câu thơ được coi là của Lạc Tân Vương sau khi theo Từ Kính Nghiệp dấy quân chống Vũ Tắc Thiên bị thất bại phải đào vong, và đúng là hai câu ấy đã bộc lộ tâm tình ung dung tự tại mà vẫn ngạo nghễ thách thức kẻ cầm quyền của một người may mắn ra được ngoài vòng cương tỏa. Tóm lại con người ta thấy không ai làm gì được mình là làm tới ngay, người thường đã như thế, bọn nhà thơ lại càng như thế...
Thứu Lĩnh hữu thiều nghiêu, Long cung tỏa tịch liêu.
Lâu quan thương hải nguyệt, Môn đối Chiết Giang triều.
Quế tử nguyệt trung lạc, Thiên hương vân ngoại phiêu.
Môn la đăng tháp viễn, Khô mộc thủ tuyền diêu.
Sương bạc hoa canh phát, Băng khinh diệp vị điêu.
Túc linh thượng hà dị, Sưu đối địch phiền hiêu.
Đãi nhập Thiên Thai lộ, Khan dư độ thạch kiều.
(Thiền môn cao chót vót, Sông nước cảnh mơ màng.
Lầu sáng trăng thương hải, Song rền sóng Chiết Giang.
Trong trăng lơ lửng quế, Ngoài cõi phất phơ hương.
Trên tháp dây mây mọc, Bên khe máng nước tràn.
Sương bay hoa vẫn nở, Băng nhẹ lá chưa tàn.
Trăm tuổi có chi lạ, Tìm thơ để ý nhàn.
Cảnh tiên đang mở lối, Cầu đá đợi ngưởi sang).
(thivien.net)
------oOo------