[28]
Gân gà: nguyên văn là chữ
鷄肋
Kê Lặc, chỉ một sự gì không có ý vị sâu xa. Còn viết là
雞肋
Kê lặc công danh
雞肋工名
: chữ của Tào Tháo
曹操
(155–220) dùng khi đánh Hán Trung không được.
Tôi nghĩ là phần chú này của bạn có vấn đề (thiếu dẫn dắt). Nếu ai đã đọc đến điển Tào Tháo chém Dương Tu thì sẽ hiểu rất rõ ý vị (tôi dùng từ của bạn) của từ gân gà. Gân gà – nhai thì khó nhai mà bỏ đi thì phí.